(Chinhphu.vn) - Thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo bước ngoặt sâu sắc, mạnh mẽ trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao; xây đắp một chế độ xã
hội mới mẻ, tốt tươi, đẹp đẽ ở Việt Nam; thể hiện đầy đủ, sâu sắc và sinh động
bản chất dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc của chế độ mới. Để bảo vệ
và xây dựng chế độ mới đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Số phận dân ta là ở
trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân
để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ” .

Bác Hồ và Đoàn ca múa Nhân dân. Ảnh tư liệu.
"Văn hóa soi đường"
đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, chủ
nghĩa xã hội
Thắng lợi vẻ vang của Cách
mạng Tháng Tám đã tạo động lực, mục tiêu, cảm hứng, niềm tin to lớn, mạnh mẽ cổ
vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta viết trang sử mới của một kỷ nguyên mới,
mở ra một thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh. Bằng cảm xúc thiêng liêng, dào
dạt trước mùa Thu cách mạng, trước nền độc lập tự do, nhà thơ Tố Hữu đã viết
những câu thơ hào sảng: "Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió
mạnh / Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời" (Huế tháng Tám);
nhà thơ Nguyễn Đình Thi reo vui: "Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng
vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới /
Trong biếc nói cười thiết tha"... (Đất nước); nhạc sĩ Bùi Công Kỳ với
ca khúc "Ba Đình Nắng" (thơ Vũ Hoàng Địch), cất lên những giai điệu
tự hào, kiêu hãnh: "Gió vút lên ngọn cờ trên kỳ đài phơi phới /
Gió vút lên đây bao nguồn sống mới dạt dào / Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi
/ Của mùa thu cách mạng, mùa vàng sao…".
Ngay từ những ngày đầu và
nhiều năm tháng sau đó, Cách mạng Tháng Tám và nguồn sáng tin yêu từ lãnh tụ Hồ
Chí Minh đã trở thành niềm kiêu hãnh, sức kết nối và lan tỏa của triệu triệu
con tim, thành niềm cảm hứng lớn lao, trong trẻo, ào ạt của cả dân tộc tự tin
vươn về phía trước. Với tầm nhìn thời đại, tầm vóc văn hóa, bản lĩnh chính trị,
cùng với việc đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đề cao tính "soi đường", "thắp lửa" của văn hóa,
văn nghệ, vai trò to lớn của đội ngũ nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ sát cánh
cùng công nông binh và giới công thương gia trong công cuộc kháng chiến kiến
quốc.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thực thi nhiều biện pháp nhằm tìm kiếm, phát hiện, tập hợp, sử dụng,
trọng dụng nhân tài; giúp đỡ thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ mới tiến bộ; đào tạo,
gây dựng họ thành những người "chính tâm và thân dân"[1].
Trong bài viết "Nhân tài
và Kiến quốc", đăng báo Cứu quốc, số ra ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: "Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù
chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng
thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều".
Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc
lần thứ nhất (24/11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:"Nền văn hóa
mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở".
Người chỉ rõ "Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy
để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh
thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ". Người nhấn mạnh:
"Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa
vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham
nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc
lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập,
tự do"… "Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho
quốc dân đi".
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mới, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ, giới công
thương gia là người Việt Nam đang sinh sống, làm việc ở các đô thị lớn trong
nước và ở nước ngoài đã tự nguyện rời bỏ cuộc sống nơi phồn hoa, lên chiến khu
hay trở về Tổ quốc tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hy sinh,
gian khổ. Đó là các vị: Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Tạ Quang Bửu, Phan Anh,
Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Lương Ðịnh Của, Nguyễn Văn
Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc
Thạch, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum, Võ Quý
Huân, Vũ Đình Quỳnh... và nhiều người khác.
Trong thư gửi các họa sĩ nhân
dịp triển lãm hội họa (năm 1951) ở chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em
là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Người đề cao vai trò xung kích của văn
hóa, văn nghệ trong sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng
chế độ mới. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải
tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ
của dân tộc. "Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không
thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị"; "chính trị,
kinh tế, văn hóa đều "phải coi là quan trọng ngang nhau"[2].
Đồng hành cùng dân tộc, cùng
nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng, nhiều thế hệ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ
sĩ, công thương gia đã đồng hành cùng cả dân tộc trong cuộc trường chinh gian
khổ đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành thắng lợi vẻ vang trong các
cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, chủ quyền quốc gia, xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Văn hóa tiếp tục "soi
đường", khơi dậy khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, hạnh
phúc
Để đưa đất nước vững bước đi
lên, trong số các nguồn lực, nền tảng, điểm tựa quan trọng, văn hóa luôn luôn
có vị trí đặc biệt, vị trí "soi đường", "chiếu sáng", tạo
cảm hứng cách mạng và sáng tạo to lớn cho mọi giới, mọi lực lượng. Đảng ta xác
định: "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người là nhiệm vụ quan
trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Văn hóa là hồn cốt của dân tộc,
là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo
đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"[3].
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng lúc sinh thời khẳng định: "Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng
là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, dựa
trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội"... "phấn
đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá
con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày
càng cao".
Trước chặng đường mới của đất
nước, từ góc nhìn cách mạng và văn hóa, Đảng ta và Tổng Bí thư Tô Lâm đã khởi
xướng và lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào và vươn lên trong
kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nếu có ai đó băn khoăn, nêu
câu hỏi: Tại sao chúng ta lại phải xác định "kỷ nguyên mới", "kỷ
nguyên vươn mình của dân tộc" thì câu trả lời vẫn từ góc nhìn cách mạng và
văn hóa: Thế giới đã và đang đi rất nhanh, tiến rất mạnh vào thời kỳ phát triển
đột phá chưa từng có về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Câu nói của một
thời "Một ngày bằng hai mươi năm" vốn là điều mơ ước thì nay là sự
thật hiển nhiên, sinh động.
Sự phát triển nhanh chóng và
mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn và tự động hóa
đang định hình mạnh mẽ, nhanh chóng tư duy, cách thức làm việc, sinh hoạt và
giao tiếp trong từng cộng đồng, từng quốc gia và cả nhân loại. Điều này đòi hỏi
chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ, sâu sắc một tâm thế, một tầm nhìn, một cuộc đổi
thay lớn lao; phải đào tạo, gây dựng một thế hệ, nhiều thế hệ cán bộ trẻ đáp
ứng những đòi hỏi rất cao, rất khắt khe để phát triển bền vững đất nước, tiến
hành một cuộc cách mạng về hạ tầng, về thể chế, về nguồn nhân lực. Phải tổ chức
lại, nâng cao trình độ, năng lực bộ máy quản lý, quản trị, tái cơ cấu nền kinh
tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đầu tư mọi mặt để phát triển khoa học, công
nghệ. Phải tạo nội lực vững chắc mới đủ tự tin hội nhập, hợp tác với bên ngoài.
Từ vị thế đi sau, trình độ, kỹ năng, nguồn lực hạn chế, có mặt non yếu, bất
cập, chúng ta phải tích cực học hỏi, tiếp nhận, tiếp biến văn hóa, khoa học,
công nghệ từ bên ngoài, vươn lên khẳng định vai trò, tầm vóc, thế và lực của ta
trong luật chơi và cuộc chơi toàn cầu, nhất là ở các lĩnh vực mới nổi, có tính
đột phá.
Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị
(khóa XIII) ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là
một nghị quyết cấu thành trong hệ thống các nghị quyết quan trọng để phát triển
toàn diện và vững mạnh đất nước mà Bộ Chính trị đã ban hành và chỉ đạo thực
hiện quyết liệt trong năm 2025 đến nay.
Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng
định: "Văn hoá Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc
trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh
quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam".
Nghị quyết 80-NQ/TW yêu cầu:
"Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hoá chưa toàn diện và sâu sắc. Việc
thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà
nước còn chậm, chưa đồng bộ, có mặt thiếu đột phá. Môi trường văn hoá chưa thật
sự lành mạnh, đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp, mất bản sắc. Đầu tư cho
văn hoá còn thấp và dàn trải; nguồn lực chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước.
Nguồn nhân lực văn hoá tồn tại nhiều bất cập. Cơ chế, chính sách chưa phát huy
đầy đủ sức sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ.
Mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hoá của người dân còn chênh lệch giữa các
vùng, miền, địa phương".
Nghị quyết 80-NQ/TW nêu quan
điểm chỉ đạo của Đảng: "Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn
lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển
nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài
hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi
trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của
quốc gia trong kỷ nguyên mới"… "Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện
nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người
để phát triển văn hoá. Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn
minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng
hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con
người Việt Nam".
Nghị quyết 80-NQ/TW tiếp tục
khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng: "Phát triển văn hoá là sự nghiệp
của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể
sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hoá,
doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương
mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên".
Nghị quyết 80-NQ/TW yêu cầu
phát huy mạnh mẽ, toàn diện sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam; giải quyết
tốt hơn các mối quan hệ nội tại của văn hoá: "xây" và
"chống"; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và
phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và
bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số".
Mục tiêu chung đến năm 2030 là
"xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa
học, hiện đại. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh từ gia đình, nhà trường
đến xã hội và không gian số. Phát triển văn học, nghệ thuật xứng tầm với lịch
sử văn hoá dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới… Đẩy mạnh phát triển
các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp
văn hoá, nghệ thuật sáng tạo"…
Một số chỉ tiêu quan trọng
được xác định: "Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá quốc gia, bảo đảm
100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp
ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ,
chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Phấn
đấu hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc
gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. 100% học sinh, học viên, sinh viên
trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên
các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hoá. Bảo đảm nguồn lực tương xứng
cho phát triển văn hoá; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng
năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Ban hành cơ chế tài chính
để ưu tiên thực hiện trong 3 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi ngộ nhân tài
trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số
trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm
văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng
tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới….Phát triển các ngành công
nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về
công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá,
thiết kế và thời trang,... Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ
thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ
1 - 3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác
chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi
danh.
Nghị quyết 80-NQ/TW xác định
tầm nhìn đến năm 2045: "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của
phát triển; các giá trị văn hoá giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm
thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khẳng định vị thế văn hoá của quốc
gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là điểm
đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở
thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hoá - sáng tạo năng động, với
một số chỉ tiêu chính: Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành
trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Có 10 thương hiệu
liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 -
10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh. Phấn đấu nằm trong Top 3 khu
vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc
gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.
Ở phần nhiệm vụ, giải pháp,
Nghị quyết 80-NQ/TW đề ra những việc, những cách thức đúng đắn, quyết liệt, có
tính khả thi về "Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và
hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Hoàn thiện thể chế tạo
đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa".
Nhiều nhiệm vụ, giải pháp sát
với thực tế đời sống, thậm chí rất cấp thiết: "Xây dựng, ban hành và tổ
chức thực hiện Bộ chỉ số văn hoá quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của
các ngành công nghiệp văn hoá đối với phát triển kinh tế theo chuẩn mực quốc
tế. Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá… Hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp
văn hoá tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nội dung số, phát
triển sản phẩm, dịch vụ văn hoá và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường
số; chính sách thu hút đầu tư từ các tập đoàn công nghệ lớn vào hạ tầng số và
phát triển các giải pháp công nghệ cao cho văn hoá; ưu tiên đầu tư phát triển
các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện. Thí điểm các mô hình kinh doanh văn
hoá mới gắn với nền tảng số; khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư các cơ sở đào
tạo và thiết chế văn hoá, đặc biệt là ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Có chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác
công tư trong lĩnh vực văn hoá, triển khai mô hình lãnh đạo công - quản trị tư;
đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công đối với một số thiết chế văn
hoá, thể thao; khuyến khích mô hình bảo trợ văn hoá, nghệ thuật trên cơ sở đóng
góp tự nguyện, phi lợi nhuận; phát huy vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội
của tổ chức, cá nhân trong hệ sinh thái văn hoá. Xây dựng Quỹ văn hoá, nghệ
thuật theo mô hình công tư. Xây dựng cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo,
bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hoá, nghệ thuật, thể thao; chú
trọng các môn nghệ thuật truyền thống, đồng thời thúc đẩy các loại hình nghệ
thuật đương đại; bảo đảm điều kiện giảng dạy, sáng tạo đặc thù và chăm sóc sức
khoẻ chuyên biệt. Có chính sách hỗ trợ sáng tạo văn hoá trong không gian số,
môi trường số, xã hội số, kinh tế số. Có chính sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ
nhân (dân gian), nghệ sĩ; tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ văn nghệ sĩ tham gia,
đạt giải thưởng lớn tại các cuộc thi, triển lãm uy tín, danh giá về nghệ thuật
của thế giới. Có cơ chế hiệu quả để đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di
sản văn hoá của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý
hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước. Có cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ
biến các công trình, tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư
tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ
nguyên mới"… "Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn
diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện
đại"… "Lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm để định hướng
hoạt động văn hoá, giáo dục, khoa học vào mục tiêu xây dựng con người phát
triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ; giúp con người nâng cao trí tuệ, tự
hoàn thiện nhân cách, hình thành thế giới quan khoa học, hướng tới các giá trị
chân - thiện - mỹ"…"Triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hoá (dân tộc,
dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị quốc gia (hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc), hệ giá trị
gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh), chuẩn mực con người Việt Nam
(yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương,
sáng tạo).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự
chung sức đồng lòng của Nhân dân, đất nước ta đã làm nên những kỳ tích trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chặng đường mới, nhất định chúng ta sẽ kế thừa,
phát huy truyền thống vẻ vang của hôm qua, nỗ lực phấn đấu, lập nên những kỳ
tích mới, xác lập tầm vóc mới, đưa đất nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã
hội trong kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.
Theo baochinhphu.vn
Xem bản
tin gốc của Báo Chính phủ tại
đây